AEdoc-01NHỮNG NGƯỜI ANH EM CỦA TÔI

“Chuyện dài nhiều tập”

Có lẽ những người quen thuộc với Hội Từ Thiện Hồng Ân đều đã ít nhiều nghe được chương trình Giúp Gạo của Hội dành cho những người nghèo khổ, không còn sức lao động như các cụ già yếu, các bệnh nhân phong cùi, tâm thần, tàn tật. ..  Hồng Ân cũng có những lúc phải cân nhắc giữa việc giúp “con cá” (thực phẩm) và “cần câu” (công việc, dạy nghề…) vì nhu cầu nào cũng khẩn thiết; nếu là những người còn sức lao động thì việc giúp “cần câu” là điều cần hơn cả.  Và bên cạnh “cần câu” còn là việc giúp họ có ý chí vươn lên khỏi cảnh nghèo, cảnh nhờ vả vào xã hội, vào người khác.  Nói thì tức cười, nhưng trong số dân nghèo, vẫn luôn có những người muốn ở lại làm “hộ nghèo” (thu nhập dưới 400 ngàn, tức 20 đô/1 tháng, thì được xếp vào hàng “hộ nghèo”), không muốn vươn lên vì thoát nghèo người dân không còn được trợ cấp, không được hưởng “chế độ của người nghèo”.  Vì thế, việc phát sinh thêm “hộ nghèo” và “tái nghèo” hằng năm vẫn còn cao.  Xem ra việc giúp cho người dân ý thức được sự cần kiệm trong chi tiêu, cần cù chịu khó làm việc, áp dụng kỹ thuật khoa học… là chuyện rất cần thiết.  Thay đổi não trạng không phải là một chuyện đơn giản. Vì thế, phải đi khá sâu sát với dân nghèo thì mới có thể giúp họ được.

Đó cũng chính là lý do tại sao Hồng Ân chọn con đường tiếp tay với các Sơ của nhiều Hội Dòng trong việc phục vụ dân nghèo.  Hầu như Dòng nào cũng luôn cố gắng có một số cộng đoàn ở giữa dân nghèo và phục vụ họ tại các miền đất “xương xẩu”.  Và cũng có một số các Đức Giám mục luôn tích cực kêu mời nhiều Hội Dòng khác nhau về AEhangdocGiáo phận mình để phục vụ.  Các Ngài thường cho các vị bề trên hữu trách trong Dòng được mời biết về nhu cầu của địa phương.  Có Đức Cha lại mua sẵn đất để các Dòng mới có nơi cư ngụ và làm việc, tức là “có đất để cắm dùi”.  Việc tìm kế sinh nhai thường là do chính Hội Dòng mới phụ trách, có thể là trong vài năm đầu Hội Dòng mẹ sẽ cung cấp các nhu cầu cho các thành viên; sau đó, khi đã tạm ổn định nơi đất mới, các Sơ, các thầy sẽ tự tìm được cách sinh nhai.

Hồng Ân được chứng kiến khi đến các vùng đất “xương xẩu” này, các Sơ thường phải tập cho dân làng những điều rất căn bản, như việc nấu cơm chẳng hạn.  Cứ đến lúc nồi cơm sôi thì người ta gạn nước đổ đi!  Uổng thế cơ chứ?!  Rồi các Sơ còn tập cho dân trồng rau ăn, tùy theo loại đất và khí hậu của địa phương.  Nói không bằng làm, chính các Sơ ra công cầy cuốc, bồi đắp đất để trồng.  Sau vài tháng, khu đất đã có được vườn rau xanh tươi. Khi ấy, các Sơ thường giới thiệu về sự lợi ích của các thứ rau, rồi cho dân, mỗi nhà một ít để ăn thử, kèm theo 1 gói hạt giống để trồng.  Với tháng năm, “kiến tha lâu, cũng đầy tổ”, người dân làng từ từ thay đổi theo chiều hướng tốt hơn. 

Nhưng cũng không phải là lúc nào sự hướng dẫn của các Sơ cũng thành công, như có lần các Sơ giúp vốn cho một số gia đình nuôi vịt, bắt đầu từ việc cấp cho mỗi gia đình nghèo từ 50 đến 100 chú vịt con (cho nhẹ vốn).  Nhưng khi chúng lớn, đàn vịt cứ … thưa dần, thỉnh thoảng lại mất 1 con cho đến khi hết sạch cả đàn.  Người này mách tội người kia đã giết vịt làm tiết canh!  Chương trình “Giúp vốn nuôi vịt” hay chương trình “nuôi bò” thường hay kết thúc… “vỡ nợ, vỡ vốn” như thế đó. (“Giúp vốn nuôi bò”: các Sơ giúp mỗi gia đình 1 con bê cái.  Gia đình này có bổn phận nuôi cho lớn, vì cỏ hoang rất nhiều. Đến khi nó đẻ được 1 con bê cái khác thì sẽ dùng con bê cái này để cho gia đình kế tiếp).

Chuyện về dân nghèo thường luôn là những chuyện dài nhiều tập, lắm khi dở khóc dở cười.  Những kiến thức rất thông thường mà đôi lúc chúng ta không thể tưởng tượng được rằng có những gia đình không biết cách áp dụng; như lời tâm sự của 1 cô giáo làng rằng: các trò của cô nhiều em hôi không thể tưởng được, vì quần áo của chúng chỉ được giặt khi nó thật hôi!  Và cách giặt chính là nhúng nước, vò vài cái rồi treo lên, chứ không dùng xà bông.  Nhiều gia đình, vì con nhỏ hay đái dầm, nên họ cho chúng sống… thiên nhiên luôn, hoặc có khi chỉ mặc áo thôi là “sang trọng” lắm rồi.

Còn nếu đến với dân tộc thiểu số sống trên cao nguyên, rừng núi, người ta đều dễ dàng nhận thấy hầu hết các nơi đều có nhu cầu cần nước sạch cho dân làng, đặc biệt trong thời gian hạn hán, khi các suối nước, ao hồ đều khô cạn.  Nước mà người dân gạn lọc mang về dùng thường đục ngầu với biết bao nhiêu là vi khuẩn!  Thật kinh khủng!  Nhưng nếu khát thì phải uống thôi, nên chẳng trách gì người dân tại đây thường mắc các bệnh về đường ruột.  Vì thế, có vài Hội Dòng quyên góp tiền để giúp làm một số giếng cho dân làng.  Và vì là cao nguyên, đồi núi, nên việc đào giếng rất khó khăn.  Bởi thế, các Sơ đã phải nhờ các nhóm chuyên môn về “khoan giếng” đến các làng mạc để khoan cho các làng đông dân 1 cái giếng chung.  Việc tìm được mạch nước cho đến bây giờ vẫn còn là “cơ may”, tức là có lúc được, lúc không, nên có khi khoan đến 50, 60 mét mà vẫn phải bỏ để tìm mạch khác.  Rồi sau khi có giếng, còn phải sắm sửa thêm 1 bồn nước lớn để chứa nước, bên dưới là một số các vòi nước nhỏ.  Mỗi ngày, người phụ trách của làng chỉ có thể mở vài tiếng cho dân đến kín nước mang về.  Bao nhiêu là công trình và tài chánh đổ vào để có được giếng nước trong lành cho dân dùng.  Ấy vậy, mà sau này các Sơ kể thêm rằng: khi trời hạn hán thì dân làng mới dùng nước này để ăn uống, còn khi các suối còn nước thì họ vẫn lặn lội ra lấy nước ở đây về dùng vì “nước suối” ngon và ngọt hơn nước giếng!  Thôi cũng được, ít là họ có được cách giải quyết về nước dùng quanh năm.

Tại một số nơi khác, một số Dòng lại áp dụng cách khác là ráp máy lọc nước rất lớn tại sân nhà Dòng/nhà thờ và cho dân nghèo đến lấy nước theo những giờ ấn định.  Đây là cơ hội để các cha, các Sơ, các thầy gặp gỡ dân nghèo để lắng nghe nhu cầu của họ cả về vật chất lẫn tâm linh.  Biết được nhu cầu chính đáng của họ rồi thì mình mới biết cần làm những gì để giúp họ.

Và… giai đoạn kế tiếp là việc tìm kiếm thêm các vị Mạnh Thường Quân để trợ giúp cho các chương trình, là giai đoạn mà Hồng Ân đã thực hiện tại Hải Ngoại.  Kẻ giúp công, người giúp của, vì chẳng ai một mình có thể làm được tất cả từ A tới Z.  Vì Hồng Ân chủ trương đến với người nghèo qua sự phục vụ của các Sơ thuộc nhiều Hội Dòng, nên việc đề cập đến các Sơ nhiều hơn là chuyện đương nhiên; và vì trong ban Điều hành của Hồng Ân cũng có một số các Tu sĩ, linh mục, nên lý tưởng tận hiến sống phục vụ các chi thể đau khổ của Đức Kitô là điều mà Hồng Ân biết rằng các ngài luôn cố gắng thi hành, dù đang đảm trách bất cứ trách nhiệm nào.  Giáo Hội thông công với nhau, công việc của người này hỗ trợ cho công việc của người kia và không ai có thể tự hào công trình này, công trình kia là của riêng ai.  Người trồng, người tưới và Thiên Chúa là đấng làm cho cây được lớn lên.  Xin cho Danh Ngài cả sáng!

 

AEngang-01AEngang 03

01-kien-giangĐầu tháng 7 vừa qua, cùng với các Sơ Đa Minh Thánh Tâm, Hồng Ân lại bắt đầu bước tới 1 vùng sâu, vùng xa khác thuộc tỉnh Kiên Giang, miền Tây Việt Nam.  Việt nam là quốc gia nghèo thứ 53 trên thế giới, nên có nhiều người nghèo là chuyện đương nhiên, dù vẫn có các Công Tử Bạc Liêu, các Đại gia và “Siêu Giầu” thản nhiên vui sống, không khác nào chuyện Phú Ông và người ăn mày Lazarro trong Kinh Thánh.  Và vì quỹ có hạn, nên Hồng Ân chỉ có thể chạm đến một số rất nhỏ các người “siêu nghèo” tại một số nơi, qua sự phục vụ của quý Sơ, ưu tiên vẫn là các cụ già cô đơn, già yếu, gần đất xa trời, để ít là trong giai đoạn cuối của cuộc sống, các cụ cảm nhận được sự ấm áp của tình người.

Mỗi lần tiến bước đến thêm một địa phương nào, Hồng Ân lại được nghe kể nhiều về dân tình ở đấy:

Trước hết, về địa lý, Kiên Giang nằm tận cùng phía tây OPTT-SET-01nam của Việt Nam, trong đó lãnh thổ bao gồm đất liền và hải đảo. Phía Bắc giáp Campuchia, phía Nam giáp tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau, phía Tây giáp vịnh Thái Lan, phía Đông lần lượt tiếp giáp với các tỉnh là An Giangthành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang.

Trong số các cụ mà Hồng Ân nhận giúp cũng có những cụ có con cháu, chứ chẳng phải là không, nhưng các cụ rơi vào tình cảnh đúng như câu Tục Ngữ mà chúng ta thường nghe “Mười con không nuôi nổi một mẹ”.  Con cái các cụ tản mác nhiều nơi, và thường thì cái nghèo kéo dài từ thế hệ này sang thế hệ khác.  Các gia đình nghèo thường rất đông con, nhưng chúng phần lớn không được đi học, hoặc phải bỏ học sớm, nên thế hệ con cái cũng nghèo.  Rồi đến thế hệ cháu chắt cũng thế, không vươn ra khỏi được cảnh “Con vua thì lại làm Vua.  Con sãi ở Chùa lại quét lá đa”; trong đó, phải nói đến cả yếu tố thiếu ý chí để thoát khỏi cảnh nghèo của những người còn sức lao động.

            Các cụ được giúp thuộc nhiều Tôn Giáo khác nhau như Công Giáo, Phật Giáo, Hoà Hảo,… hoặc không theo đạo nào, vì các cụ được chọn lựa theo tiêu chuẩn nghèo khổ, khốn cùng.  Bởi vậy, trong nhóm các cụ ở miền Tây lần này có một số là “Việt Kiều”, và đương nhiên không phải là Việt Kiều Mỹ mà là Việt Kiều gốc Campuchia hay người Dân Tộc thiểu số.  Có những cụ chẳng biết mình mang “họ” gì, chỉ dùng theo thứ tự trong gia đình, kèm theo “sắc tộc” như cụ “Tư Miên”.  Rồi đến các cụ “Thị Út Chua” 81 tuổi, cụ “Thị La Lâm” 70 tuổi, vì không biết họ của mình, nên trên giấy tờ đành dùng chữ “Thị” đi trước để chỉ phái tính là “người nữ”.

            Trong các cụ, có người làm nghề… “thầy bói”, hay nói đúng là “bà bói” để kiếm sống, dù cụ cũng chẳng biết gì về bói toán.  Với “nghề nghiệp” đặc biệt này, có lúc cụ phải “nịnh” khách hàng (“bà có tướng phú quý, có tai quá đẹp”, “bà sắp có tin vui”), lúc phải “đe” (“bà sắp gặp tai nạn khủng khiếp”) mà vẫn có người tin!  Về sau, được cha, Sơ khuyên giải quá, cụ đổi sang nghề … lượm ve chai.  Nhưng không biết, thỉnh thoảng buồn tình cụ có trở về nghề bói toán cũ chăng.

            Rồi cũng có vài cụ phải nuôi cháu nhỏ thay bố mẹ chúng.  Có cụ chồng chết, con trai chết, con dâu bỏ đi, để mấy đứa cháu lại cho bà nội nuôi.  Cả đời cụ cứ lận đận hết nuôi con đến nuôi cháu.  Tuổi đã già, nuôi chính mình còn vất vả, nay lại còn phải nuôi thêm các cháu.  Và cụ cứ phải xin đi “mót lúa” chỗ này chỗ kia.

            Và cũng có cụ già yếu quá, không làm gì được nữa, nên cô con gái dù bị khuyết tật, không đi được, nhưng cũng cố gắng may quần áo để nuôi bố và các cháu nhỏ đi học.

            …

            Đến thăm các gia đình nghèo, nhiều lần các Sơ phải bước ra về với tâm trạng nặng nề, xót xa.  Lời an ủi, động viên lắm lúc cũng thấy thừa.  Họ cần sự trợ giúp cụ thể hơn.  Các Sơ đã chuyển đến cho Hồng Ân một danh sách dài và xin Hồng Ân “chọn dùm” vì ai cũng ở hoàn cảnh “bỏ thì thương, vương thì tội”.  Các Sơ khôn thật đấy!  Hồng Ân đọc xong, cũng lại không biết chọn ai, bỏ ai, nên gởi trả lại các Sơ, xin các Sơ là người ở sát với họ, biết nhu cầu của từng người hơn.  Hồng Ân không dám nhận nhiều vì việc kiếm ân nhân để hỗ trợ không phải là chuyện dễ.  Và cũng không phải ân nhân nào cũng giúp cố định hằng năm, mà lắm khi họ chỉ muốn giúp 1 lần rồi thôi.  Biết về các cụ thì thấy thương thật đấy, nhưng lắm lúc “lực bất tòng tâm”, chẳng lẽ 5 đồng tiền gạo hằng tháng, còn phải chia đôi cho 2 cụ, mỗi cụ 2.50 đồng/1 tháng?  Mà có chia nhỏ ra thế nào thì số người nghèo vẫn còn vô hạn.  Hồng Ân xin phó thác mọi sự trong tay Chúa, và đành tự an ủi rằng: “Thời của Chúa Giêsu cũng bao nhiêu người nghèo, người ăn xin, người phong cùi…”  Xin Chúa đánh động tâm hồn những đại gia, những vị “Siêu giầu” đang ở ngay bên người “Siêu Nghèo” chăng?  

 

 

 

 

hoahongvang