Cui01Như quý vị đã biết, đầu năm 2014, Hồng Ân đã nhận trợ giúp thêm cho 2 nhóm bệnh nhân phong cùi nghèo tại Kontum, Gia Lai.  Càng biết thêm về tình trạng sống của họ, Hồng Ân càng thấy xót xa cho thân phận của những người bất hạnh này.

Người mắc bệnh phong cùi không giống như người bị những thứ bệnh khác.  Bệnh nhân phong thường bị mọi người xa lánh, xua đuổi, dù rằng hiện nay người ta đã biết rằng không phải vì tội lỗi họ phạm khiến cho thân xác họ phải mang cơn bệnh ngặt nghèo này; nhưng có lẽ phần nào đó vì các bệnh khác, ngay cả ung thư, khi bị nặng, cũng chỉ khiến cho bệnh nhân gầy yếu, hốc hác, liệt giường; nhưng với bệnh nhân phong cùi, nếu không được chữa trị, da thịt họ sẽ bị phát nhọt, lở loét, vi trùng ăn sâu vào các ngón tay ngón chân.  Rồi thêm lông mày rụng, mắt lộ ra, giọng nói khàn đi vì thanh quản cũng bị lở.  Thân xác người bệnh dần dần biến đổi như thế khiến cho người chung quanh thấy ghê sợ.  Họ trở nên dị dạng giữa mọi người!  Vì thế, dù rằng ngày nay, bệnh phong cùi không còn là bệnh nan y nữa và nhiều tài liệu cho biết “Bệnh cùi lây trong trường hợp sống chung đụng một thời gian dài với người đang mang bệnh. Thường thì 95% người có sức khoẻ bình thường có sức đề kháng mạnh chống lại vi trùng cùi. Họ không bị lây ngay cả đến việc giao tiếp hằng ngày với bệnh nhân” nhưng nói chung, người ta vẫn sợ bệnh này và vẫn còn cái nhìn dè dặt, thiếu thiện cảm với người mắc bệnh. Cui-set

Hồng Ân nhớ lần đến thăm 1 “làng cùi” ở Kontum, gặp Sơ phụ trách là y tá, chuyên khám bệnh, phát thuốc cho người phong cùi.  Sơ đã tỉnh bơ cầm tay ông cụ bệnh nhân phong lở loét, chỉ vào “lỗ đáo” trên tay của ông và trách ông vì đã không giữ vệ sinh, không uống thuốc đều đặn để bệnh thêm nặng.  Thấy có người hỏi: “Sơ không sợ lây bệnh à?”  Sơ cười và trả lời ngày: “Trời, chị tưởng là dễ mắc bệnh cùi lắm à?”  Trước cửa nhà Sơ, lúc nào cũng có luẩn quẩn vài bệnh nhân và các trẻ nhỏ.  Sự thân thiện và thương mến của Sơ đối với dân nghèo và các bệnh nhân phong cùi khiến cho nhiều người cảm thấy ấm lòng và lúc nào cũng muốn được ở gần bên chị nữ tu nhỏ bé.

Tài liệu nghiên cứu về căn bệnh này cho biết:  Khi người bệnh uống thuốc chữa trị thì hầu hết các vi trùng trong người bị chết ngay trong vài ngày đầu, và sau hai tuần, thường thì người cùi không còn lây nữa. Ðể diệt trừ bệnh phong cùi, ngày nay bệnh nhân không cần thiết phải bị tách riêng ra một nơi, khỏi xã hội, làng xóm, khỏi những người thân trong gia đình. Bệnh cùi không lây qua sự giao hợp giữa vợ chồng hay di truyền cho con cái qua việc sanh sản”.  Nhưng trên thực tế, khi mới biết mình mắc bệnh, bệnh nhân thường cố dấu diếm bao nhiêu có thể với mọi nguời chung quanh, có khi ngay cả với gia đình của họ.  Và khi bệnh đã trở nên quá nặng, thịt da lõm vào, phát nhọt, lở loét… không còn che đậy được nữa thì lúc ấy, dù có uống thuốc, chữa bệnh, các “di tích” trên thân thể vẫn còn đó, và vẫn làm cho người chung quanh sợ hãi, xa lánh.

Đối với người “Kinh” thì gia đình sẽ đưa họ vào các Trại Cùi (Trại Phong) và hầu hết các bệnh nhân sẽ ở lại đây cho đến chết, xa hẳn thế giới bên ngoài.  Rồi cũng không thiếu những bệnh nhân bị gia đình đưa vào đây, sau đó chỉ đến thăm họ một vài lần và không trở lại nữa.  Gia đình cũng có nỗi khổ về tâm lý vì họ cũng không muốn ai biết họ có thân nhân mắc bệnh phong cùi, vì rồi chính họ e rằng cũng sẽ bị mọi người xa lánh, bị đẩy ra khỏi các sinh hoạt chung của cộng đồng.  Vì thế, rất nhiều gia đình phải đành đưa cha/mẹ/chồng/vợ/anh/chị/em của mình vào Trại Cùi rồi cắt bỏ mọi liên lạc với bệnh nhân.

Đối với người “Dân Tộc thiểu số” thì họ được rất ít sự quan tâm của nhà nước, nên Trại Cùi dù cũng có, nhưng chỉ một số nhỏ người bệnh được nhận vào chữa trị.  Vì thế, nếu buôn làng của họ có vài người cùng mắc bệnh này, thì họ có thể tụ lại sống thành nhóm nhỏ với nhau.  Sau đó, có thể sản sinh thêm con cái, và trở thành “làng”, hoặc có thể là họ sẽ lần lượt chết dúi dụi ở một góc rừng nào đó!  Các “nhóm nhỏ” khởi đầu thường sống rất chật vật vì họ ít người, lại bị buộc cách xa người “khoẻ mạnh”, nên phải lui vào tận rừng sâu, tự lực cánh sinh trong môi trường thiên nhiên của rừng xanh đầy khắc nghiệt.  Người khoẻ còn khó sống, nói gì đến người bệnh phong khuyết tật.

Hồng Ân nhớ có lần nhận được thông tin về 2 cặp vợ chồng bệnh phong cùi, sống trong rừng sâu, được trợ giúp 1 cái giếng đào.  Các ông bà mừng rỡ hân hoan, vì từ nay, họ không còn phải đi xa để lấy nước nữa. Nhìn những khuôn mặt cười như mếu của họ, đã thấy thương rồi, nhưng khi thấy họ dùng những bàn tay không còn ngón và cố gắng quay nước giếng (trong rừng không có điện) thì Hồng Ân thấy thật chua xót.  Việc tìm người đào giếng cho họ cũng là chuyện gian nan vì chẳng ai muốn đến gần các bệnh nhân này, dù chỉ là để đào giếng cho họ.

Vì thế, có lẽ quý ông bà anh chị em sẽ không ngạc nhiên gì khi Hồng Ân cố gắng vươn tay đến với các bệnh nhân phong cùi trong giới hạn của mình cũng như tuỳ thuộc vào thời gian có được của các Sơ phục vụ tại địa phương.  Thú thật rằng thăm viếng các bệnh nhân một năm đôi ba lần thì có thể dễ, nhưng việc phục vụ / thăm viếng các bệnh nhân phong cùi thường xuyên và lâu dài không phải là chuyện người tu sĩ nào cũng làm được.  Ngoài ra, nếu thân nhân của người bệnh bị xã hội, người đời tránh né thì các Sơ phục vụ bệnh nhân phong cũng không thoát được cảnh này.  Mỗi lần các Sơ về thăm gia đình, hàng xóm, láng giềng, đôi lúc cũng bị những lời xì xào: “Sơ này/Chị này hình như trông cũng hơi… cùi cùi!”.  Nghe muốn rớt nước mắt!  Khóc thì cứ khóc, nhưng các Sơ vẫn tiếp tục tiến bước trên đường phục vụ.  Vì thế, các nâng đỡ tinh thần và tâm lý không phải chỉ dành cho bệnh nhân phong cùi mà cả cho những người phục vụ họ nữa.

Và lại một lần nữa, Hồng Ân tha thiết kêu mời quý ông bà anh chị em hãy cùng tiếp tay với Hồng Ân để đến với dân nghèo, đến với các bệnh nhân đáng thương này.  Mong sao dù phải chiến đấu với cơn bệnh ngặt nghèo, họ vẫn thấy ấm lòng vì còn rất nhiều người quan tâm và thương yêu họ ở bên kia nửa quả địa cầu!

 

Cui04

CAMAU01Điạ lý nước Việt nam thường được mô tả với câu: “Nước Việt nam trải dài từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau”; điểm “cực Bắc” của Việt Nam là Nam Quan và “cực Nam” là Cà Mau.  Và sau khi nhận lời giúp hỗ trợ một số các cụ già ở Kiên Giang, Hồng Ân lại “vâng lời trọng hơn của lễ”, nhận lời giúp một số các cụ già tại Cà Mau.  Vì thế, Hồng Ân xin kính mời quý ông bà anh chị em về miền Tây, lên ghe tiến về Cà Mau. 

Theo lịch sử thì tên gọi Cà Mau (hay Cà Mâu) là do người Khmer gọi cho vùng đất này là “Tưk Kha-mau”, có nghĩa là “nước đen”. “Nước đen” là màu nước đặc trưng do lá tràm của rừng tràm U Minh bạt ngàn rụng xuống làm đổi màu nước.

Cà Mau “nổi tiếng” lắm đấy nhá!  Đây là vùng “Miệt Thứ” nước mặn đồng chua, nổi tiếng với… muỗi, đỉa, cá sấu và cọp.  Có câu ca dao tả về Cà Mau như sau:

Cà Mau là xứ quê mùa

Muỗi bằng gà mái, cọp tùa bằng trâu

(“Tùa” tức là “to”, là tiếng Triều Châu, đọc trại ra)

Hay câu ca dao quen thuộc:

Má ơi đừng gả con xa

Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu

Đấy!  Vùng rừng sâu nước độc mà!  Về địa lý thì Cà Mau là mảnh đất với 3 mặt Đông-Tây-Nam đều tiếp giáp với biển, còn mặt Bắc giáp với 2 tỉnh Bạc Liêu và Kiên Giang. Biển Cà Mau tiếp giáp với vùng biển các nước như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, và là trung tâm của vùng biển quốc tế ở Đông Nam Á. Vì thế, không lạ gì trong quá khứ, đã có rất nhiều ghe tầu vượt biên từ đây để tìm tự do.

Cà Mau có 5 nhóm đất chính gồm đất phèn, đất than bùn, đất bãi bồi, đất mặn và đất kênh rạch.  Vì đất thiếu nước ngọt và ruộng quá nhiều phèn, nên không thu hút được nhiều người đến lập nghiệp.  Theo thống kê năm 2009, toàn tỉnh Cà Mau có hơn 1,167,765 là người Kinh, 29,845 là người Khmer, 8.911 là người Hoa (về kinh tế thì người Hoa nắm hầu hết); còn lại là các những dân tộc thiểu số khác như Tày, Thái, Camau-set01Chăm, Mường, v.v…

Hiểu sơ về tình hình địa phương là thế, nên chúng ta sẽ không lạ gì khi đến với vùng sông nước này và bị hết muỗi to đến muỗi nhỏ tấn công ngày đêm!  Khách lạ về đây sẽ được muỗi ái mộ nhất vì trở thành món “đặc sản” cho chúng, tha hồ mà chích!  Sơ Cố Vấn của Hồng Ân khi về đây chơi, cũng được muỗi đón tiếp rất nồng hậu, nên đi đâu về đến nhà là Sơ chui vào mùng, rồi ngồi trong đó làm việc hay nói chuyện với chị em.  Sơ kể lại rằng có lần, nhìn 1 góc mùng, thấy một mảng bụi đen bám ở đây, Sơ định phủi đi, nhưng khi nhìn kỹ thì đó là cả hàng trăm con muỗi đang dính chùm với nhau.  Muỗi chích xuyên qua quần áo!  Nhưng các Sơ địa phương cho biết: Muỗi “tiếp” khách nhiều hơn vì có “mùi lạ” (“hiếu khách” cực kỳ!), chứ dân địa phương thì tuy có bị chích, nhưng ít thôi.  Chứ nếu sống ở đây mà cứ bị muỗi đeo bám rồi chích thì có mà chết sớm!

Vì Cà Mau là miền sông nước, nên ở đây rất nổi tiếng về các cây “cầu khỉ”, bắc từ bờ sông bên này qua bờ sông bên kia.  Thôi, cho con xin kiếu đi.  Nhìn là thấy hãi rồi.  Dân địa phương dù quen thuộc hơn, nhưng năm nào cũng có một số trẻ em chết đuối dưới sông.  Rất xót xa!  Dân ở thị xã Cà Mau thì tương đối còn văn minh, chứ dân ở vùng sâu vùng xa thì nghèo nàn, xơ xác hết sức!  Nhà cửa thô sơ với các mái nhà lá, bằng mấy miếng tôn, thùng giấy ghép lại.  Miền sông nước như thế, nên phương tiện di chuyển là bằng đò, bằng ghe.  Hằng ngày có những chiếc xuồng con đi dọc theo các bờ sông rao bán hàng, đủ mọi thứ cho người dân.  Về đây, khách du lịch về đây sẽ có những cảm giác, những ấn tượng lạ hơn những nơi khác, vì nhiều sinh hoạt không trên đất liền mà là trên sông nước.

       Khi Hồng Ân đồng ý giúp các Sơ phụ trách tại đây (thuộc dòng Đa Minh Thánh Tâm) khởi đầu với 10 xuất gạo cho các cụ già nghèo thì Sơ phụ trách mừng lắm.  Sơ cho biết: “Hôm nay, em đi trao gạo cho các ông bà già neo đơn.  Ai cũng vui mừng, cám ơn Chị và Hội Hồng Ân đã thương họ. Gương mặt ai cũng hớn hở.  Em xin gởi hình đang trao gạo tháng này cho họ.  Có cụ nhìn thấy em, cụ mừng quá, ôm cổ em hôn lấy hôn để, như mẹ thấy con đi xa mới về.  Có cụ bảo là: ‘Dì đến, con vui lắm’ ”

      Nhìn hình các cụ móm mém cười, thấy thương lắm.  Hồng Ân biết rằng khi các Sơ đến thăm dân nghèo, mang thêm tí gạo cho họ thì họ sẽ được ấm áp, hạnh phúc cả tinh thần lẫn thân xác.  Nói về Sơ phụ trách tại đây thì Hồng Ân cũng thấy ấm lòng vì Sơ tuy đã cao niên, nhưng nét mặt lúc nào cũng rạng rỡ, vui tươi, niềm nở với người đối diện.  Vì thế, Sơ đi đến đâu thì cả người già lẫn người trẻ nơi đấy đều thương mến Sơ.

Hội Hồng Ân mới vươn tay đến với vùng sông nước Cà Mau từ đầu tháng 7, 2014, và bình thường thì phải sau 1 năm “quan sát” thì Hồng Ân mới tăng hoặc giảm sự trợ giúp, nhưng đối với Cà Mau, Hồng Ân đang ngả nhiều về dự tính sẽ  tăng gấp đôi số các cụ lên ngay vào đầu năm 2015, vì người nghèo, người già tại vùng sông nước này thật đáng thương, lại được các vị tông đồ là các Sơ phục vụ rất tận tình như thế.  Sơ phụ trách nói rằng: “Hội Hồng Ân cho càng nhiều càng tốt vì em thấy còn nhiều mảnh đời quá khổ tại đây!”… Xin Chúa luôn chúc lành và gìn giữ quý Sơ và những người dân sống tại miền sống nước này.

 

Camau-ngang01Camau-ngang02Camau-ngang03